Business

header ads

Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt theo pháp luật Hình sự

Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi mà họ thực hiện, căn cứ vào tính chất đặc biệt của nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt.

Phạm tội chưa đạt được định nghĩa tại Điều 15 Bộ Luật Hình Sự 2015:  "Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt."
Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt theo pháp luật Hình sự

Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt

1. Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi mà họ đã thực hiện

Nếu căn vào thái độ tâm lý của người phạm tội, có thể phân tội phạm chưa đạt thành hai loại sau: (i) phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành; (ii) phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.

Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội vì nguyên nhân khách quan chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm. Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A định giết ông Trần B và ông A đã đâm ông B bằng dao nhọn. Nhưng A mới đâm được một nhát sượt qua hông bụng thì bị bắt giữ, A không đâm B tiếp được như ý muốn. Kết quả ông Trần B chỉ bị thương. Trong trường hợp này, người phạm tội biết hành vi của mình chưa thể gây ra hậu quả chết người mà mình mong muốn.

Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: là trường hợp phạm tội chưa đạt nhưng người phạm tội đã thực hiện được hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng do nguyên nhân ngoài ý muốn, hậu quả vẫn không xảy ra. Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A định giết ông Trần B và ông A đã chém ông B nhiều nhát, chắc ông Trần B chết nên A không chém nữa. Nhưng Trần B đã không chết do được phát hiện và cấp cứu kịp thời. Trong trường hợp này, người phạm tội tin là hành vi của mình gây ra hậu quả chết người mà mình mong muốn.

2. Căn cứ vào tính chất đặc biệt của nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt

Dựa vào nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội chưa đạt, có thể chia thành phạm tội chưa đạt vô hiệu và các trường hợp chưa đạt khác.

Phạm tội chưa đạt vô hiệu là trường hợp phạm tội chưa đạt mà nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt gắn với công cụ, phương tiện, với đối tượng tác động của tội phạm.

Phạm tội chưa đạt vô hiệu bao gồm 2 trường hợp sau: (i) Trường hợp chủ thể thực hiện hành vi nhằm gây thiệt hại cho khách thể nhưng thực tế không gây thiệt hại được vì không có đối tượng tác động (Ví dụ: A mở trộm két của cơ quan lấy tiền nhưng không lấy được vì trong két không còn tiền) hoặc vì đối tượng tác động không có tính chất mà người phạm tội tưởng là có (A đưa hối lộ cho B tưởng B là người có chức vụ, quyền hạn nhưng thực tế B không có chức vụ, quyền hạn); (ii) Trường hợp phạm tội chưa đạt do người phạm tội đã sử dụng nhầm phương tiện mà người phạm tội muốn sử dụng khả năng gây ra hậu quả của tội phạm nhưng phương tiện cụ thể mà người đó đã sử dụng không có khả năng đó. Ví dụ: Vì có thù với C nên A đã dùng thuốc ngủ liều cao để đầu độc cho C chết. Nhưng người bị đầu độc đã không chết vì người phạm tội đã dùng phải thuốc ngủ giả.

Các trường hợp phạm tội chưa đạt khác là những trường hợp không thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt vô hiệu.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét